Hệ thống pháp luật Việt Nam có thể được giải thích nhanh một cách khái quát:
1. Đối với các loại văn bản quy phạm pháp luật và hiệu lực pháp lý
Các văn bản quy phạm pháp luật có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, nhóm 2: văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn lại ở trung ương ban hành; Thứ 3: Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương ban hành.[1]. Thứ bậc của văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam như sau:
| Thứ tự | Cơ quan nhà nước có thẩm quyền | Văn bản pháp luật |
| 1 | Quốc hội | Hiến pháp, Luật, Nghị quyết |
| 2 | Ủy ban thường vụ Quốc hội | Pháp lệnh, Nghị quyết |
| 3 | Chủ tịch nước | Lệnh, Quyết định |
| 4 | Chính phủ | Nghị quyết, Nghị định |
| 5 | Thủ tướng Chính phủ | Quyết định, Chỉ thị |
| 6 | Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ | Quyết định, Chỉ thị, Thông tư, Thông tư liên tịch |
| 6 | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao | Nghị quyết |
| 6 | Chánh án Tòa án nhân dân tối cao/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao | Quyết định, Chỉ thị và Thông tư |
| 7 | Hội đồng nhân dân | Nghị quyết |
| 8 | Uỷ ban nhân dân | Quyết định, Chỉ thị |
2. Đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật:
- Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng về chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và trách nhiệm cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, quan hệ xã hội và hoạt động của công dân, tài chính. chính sách tiền tệ, nhiệm vụ dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh đến các mối quan hệ đối nội và đối ngoại….
- b. Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về những vấn đề Quốc hội giao, giải thích Hiến pháp, pháp luật, giám sát việc thi hành Hiến pháp và pháp luật …
- Các lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp và pháp luật quy định.
- Các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, quy định trách nhiệm, thẩm quyền và tổ chức bộ máy của Chính phủ, biện pháp cụ thể để thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của Chính phủ….
- Các Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm quyết định chủ trương, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ, sự phối hợp giữa các thành viên Chính phủ.
- f. Các Quyết định, Chỉ thị, Thông tư quy định các biện pháp tổ chức, hoạt động của các cơ sở trực thuộc, biện pháp chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp, giám sát hoạt động của các cơ sở, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên thuộc phạm vi quản lý. (Nếu có liên quan đến nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ nên ban hành Thông tư liên tịch, Nghị quyết liên tịch)
- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định hướng dẫn Tòa án áp dụng pháp luật thống nhất và tổng kết kinh nghiệm xét xử; Các quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành nhằm quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
- Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng của địa phương và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương. Các quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp được ban hành để thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quy định của cơ quan nhà nước ở trung ương, chỉ đạo hoạt động của các cơ quan nhà nước cấp dưới.…
3. Về hiệu lực áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
Hiệu lực, thứ tự áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật được quy định theo nguyên tắc: 1) Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật (ưu tiên áp dụng đối với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn); 2) Căn cứ vào thời điểm ban hành (ưu tiên áp dụng các văn bản được ban hành mới nhất); 3) Căn cứ vào tính chuyên biệt của văn bản quy phạm pháp luật (ưu tiên áp dụng văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành so với văn bản quy phạm pháp luật chung); 4) Căn cứ vào tính chất đặc thù của các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh (ưu tiên áp dụng quy định cụ thể).
Lưu ý:
Để tránh nhầm lẫn về tên gọi, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật giữa các văn bản đó như: Nghị định và Quyết định (cả hai đều do Thủ tướng Chính phủ ký nhưng có giá trị pháp lý khác nhau, Nghị định cao hơn); Luật và Pháp lệnh (cả hai đều do Chủ tịch Quốc hội ký nhưng có hiệu lực pháp lý khác nhau, Luật cao hơn); Luật và Bộ luật (cả hai đều có giá trị như nhau nhưng phạm vi, quy mô và nội dung quy định khác nhau). Hiện nay, Việt Nam có 6 bộ luật: Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hàng hải. Các văn bản luật còn lại gọi là Luật hay Đạo luật …
[1] Về mặt lý luận, có sự phân loại hệ thống pháp luật thành 2 nhóm: Nhóm 1 gồm Hiến pháp và các luật (Bộ luật và Đạo luật); và nhóm thứ 2 gồm các văn bản theo quy định của pháp luật (các văn bản pháp luật còn lại
